Tin trong nước

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài cuối] Công trình kiểm soát nguồn nước cửa sông lớn

Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn.

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 1] Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 2] ‘Vòng xoáy suy thoái’ khó đảo ngược

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’

Trước đây, giới chuyên môn thủy lợi không hề nghĩ đến việc xây dựng cống ở các cửa sông lớn với độ sâu hơn 10m và nền đất yếu, vì theo công nghệ cống truyền thống thì không thể làm khô hố móng; còn theo công nghệ nước ngoài thì nền kinh tế nước ta thời nào cũng không đáp ứng được.Tình trạng này từng là "nút thắt" khiến tư duy quy hoạch thủy lợi ĐBSCL bị giới hạn ở các cống nội đồng quy mô vừa và nhỏ. Nhưng tình hình đã thay đổi căn bản trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông lớn.

Công nghệ đập trụ đỡ thi công tại chỗĐập trụ đỡ là sáng chế Việt Nam được cấp bằng độc quyền số 6601 năm 2007, đã được kiểm chứng qua hơn 30 cống ngăn sông lớn vùng đồng bằng ven biển - tiêu biểu là cống Thảo Long 500m (TP Huế, 2004) và Cái Lớn - Cái Bé 450m (An Giang, 2022).Đặc trưng then chốt là thi công trong dòng chảy: từng trụ độc lập bê tông cốt thép ngàm vào nền qua hệ cọc đóng sâu trong khung vây cọc ván thép, kết hợp tường cừ chống thấm theo đường viền đứng và thảm đá chống xói; tiết diện thoát nước qua công trình bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Giữa các trụ lắp cửa van hiện đại rộng 40-60m điều khiển bằng xi-lanh thủy lực.Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.

Ưu thế nổi bật của đập trụ đỡ là khả năng kết hợp cầu giao thông trên cùng kết cấu trụ đỡ - giảm đáng kể chi phí so với xây cầu riêng và đặc biệt phù hợp nền đất yếu đáy sông ĐBSCL. Vì tính an toàn và đã chứng minh, đập trụ đỡ được chọn làm xương sống cho 4/7 cửa cần kết hợp cầu hoặc cảng cố định: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cổ Chiên/Cung Hầu và Trần Đề. Cửa Tiểu (khẩu độ 600-1.000m) là công trình được ưu tiên triển khai sớm trong thời gian tới, cho phép kế thừa kinh nghiệm trực tiếp và đẩy nhanh tiến độ triển khai.

Công nghệ đập hộp chìm

Đập hộp chìm là sáng chế Việt Nam đang trong giai đoạn nghiên cứu - thiết kế, được đề xuất để xây cống thủy lợi lớn cố định ở lòng sông sâu vùng đồng bằng ven biển, với mục tiêu thi công nhanh và giá thành rẻ hơn đập trụ đỡ.

ĐHC gồm nhiều đơn nguyên dạng hộp chữ nhật rỗng bằng bê tông cốt thép mác cao (chiều dài B vuông góc dòng chảy có thể đạt vài trăm mét), được chế tạo trong hố đúc tại bãi/nhà máy, làm nổi và lai dắt đến vị trí xây dựng, rồi hạ chìm sát đáy sông để làm cống vĩnh viễn. Ổn định công trình do trọng lượng G và chiều rộng L quyết định theo các nguyên lý chống lật, trượt, lún và thấm.

 ĐHC có hai loại theo độ sâu: loại 1 tầng cho H<12m và loại 2 tầng có sàn trung gian cho H>12m; sàn đỉnh có thể tận dụng làm cầu giao thông. So với đập trụ đỡ, đập hộp chìm bỏ được các hạng mục thi công khó khăn dưới sông sâu (khung vây cọc ván thép, trụ chịu lực bằng hệ cọc, thảm chống xói riêng), do đó giảm đáng kể chi phí và rút ngắn thời gian thi công.

Đập hộp chìm được đề xuất cho 2/7 cửa: Hàm Luông (loại 2 tầng, sâu 12-15m - là cửa rộng và sâu nhất hệ thống, nơi đập trụ đỡ sẽ tốn kém quá mức) và Định An (loại 1 tầng - độ sâu nhỏ 3-4m do bồi lắng đặc biệt thuận lợi cho dìm khối hộp). Tác giả bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu - phát triển hợp tác với Hà Lan và Bỉ - những quốc gia có kinh nghiệm khối hộp chìm quy mô lớn nhất - để đưa công nghệ này từ thiết kế sang triển khai thực địa, lấy Định An làm công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông.

Công nghệ đập tàu thủy

Đập tàu thủy là sáng chế Việt Nam đang được nghiên cứu, phù hợp với sông sâu không có quy hoạch cầu giao thông cố định và chỉ cần kiểm soát mặn mùa khô. Khác biệt căn bản so với đập trụ đỡ và đập hộp chìm: Đập tàu thủy là công trình di động - lắp dựng đầu mùa khô, cuối mùa khô hút hết nước trong lòng đơn nguyên cho nổi lên và di dời về nơi cất giữ, hoặc chỉ lắp khi có dự báo hạn cực đoan. Nguyên lý chế tạo gần giống đập hộp chìm (hộp bê tông cốt thép trong hố đúc - làm nổi - di dời - hạ chìm) nhưng kết cấu trong lòng đơn nguyên đơn giản hơn (chỉ có thanh dàn để ổn định, không chia khoang), bên dưới đáy có lớp cao su chống dính khi làm nổi trở lại.

Phạm vi áp dụng: sông chiều rộng dưới 400m mỗi đơn nguyên, ghép 1-2 đơn nguyên cho sông trung bình. Ưu điểm nổi bật là chi phí thấp nhất trong ba công nghệ do bỏ được hệ cọc chịu lực, khung vây cọc ván thép và thảm chống xói; mùa mưa lòng sông hoàn toàn tự nhiên không có công trình; có thể tái sử dụng cho nhiều vị trí.

Đập tàu thủy được đề xuất cho cửa Ba Lai (khẩu độ tự nhiên ~544m, sâu ~5 m) - kết hợp cải tạo cống Ba Lai cũ (84m, 2002) thành hệ thống kiểm soát mặn theo nguyên lý mở - thường, đóng - khi cần, đồng thời làm bãi thử nghiệm quy mô vừa cho công nghệ trước khi xem xét nhân rộng. Ba Lai là công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông cho công nghệ này giai đoạn 2030-2040, sau khi mô hình thử nghiệm quy mô vài trăm mét tại kênh - cống ngoài hệ thống đã thành công.

Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.
 Bằng việc kết hợp linh hoạt ba công nghệ trên cho các cửa sông, ước tính tổng vốn đầu tư cho hệ thống khoảng 5-10 tỷ USD (ước tính sơ bộ của tác giả; có tham chiếu với một số công trình khác). So với thiệt hại tránh được khoảng 70.000 tỷ VND/năm (~2,88 tỷ USD/năm) hiện nay và còn tăng trong tương lai, thời gian hoàn vốn kinh tế ròng chỉ khoảng 8-15 năm - một mức hiệu quả đầu tư rất cao theo chuẩn các dự án hạ tầng quốc gia. Đặc biệt nếu tính cả các giá trị gián tiếp (cảng biển, cầu giao thông, năng lượng thủy triều, phục hồi sinh thái), tỷ lệ B/C có thể đạt 3-5 lần.

Qua các phân tích của bài báo này, câu hỏi được đặt ra có lẽ không phải là “có nên can thiệp công trình hay không” mà là “can thiệp theo cách nào để giải quyết được nguyên nhân gốc rễ”. Các quan ngại cần được đối thoại nghiêm túc trên cơ sở khoa học, không phải bác bỏ. Đề xuất CTKSNN không phủ định các giải pháp "thuận thiên" và không định vị mình là giải pháp thay thế. Ngược lại, CTKSNN được hiểu là điều kiện đủ về mặt thủy văn, đảm bảo dòng nước ngọt mùa khô để các giải pháp mềm (chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, lúa - tôm, trữ nước phân tán, kiểm soát khai thác nước ngầm, ngoại giao Mekong) có cơ sở vật chất phát huy hiệu quả trong những năm cực đoan.

Có quan ngại cho rằng, việc xây dựng các CTKSNN sẽ cản trở di cư của các loài cá và giao thông thủy. Đây là quan ngại sinh thái chính đáng. Tuy nhiên, công trình hiện đại đều có âu tàu hiện đại, thang cá và âu cá tích hợp. Hơn nữa, do CTKSNN có tiết diện bằng lòng sông, lại được mở theo yêu cầu môi trường, di cư cá vẫn diễn ra tự nhiên trong 90-95% thời gian. Khi đóng cửa van trong những giờ cao điểm triều mặn, các thiết kế "thân thiện với cá" như cửa quay xiên, lạch phụ thông qua được áp dụng để giảm thiểu cản trở. Bài học từ Hà Lan, Đức, Anh cho thấy có thể duy trì 70-80% lưu lượng di cư cá tự nhiên qua thiết kế tốt.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài cuối] Công trình kiểm soát nguồn nước cửa sông lớn

 

Trữ nước thích ứng hạn mặn

Trước áp lực hạn mặn, biến đổi khí hậu, nhiều giải pháp tích trữ nước, sản xuất lúa chất lượng cao đang được thúc đẩy tại ĐBSCL.

 Nông nghiệp ĐBSCL bước vào kỷ nguyên không cần nhiều sức người

Giải pháp số từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp ở ĐBSCL

ĐBSCL chuyển mạnh từ 'ứng phó bị động' sang 'chủ động thích ứng' với thiên tai

Rõ người, rõ việc trong kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL

 Mới đây, tại phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Khuyến nông vùng ĐBSCL, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long cùng các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo “Chuyển giao công nghệ, kiến thức thực hành sản xuất lúa chất lượng cao, hiệu quả bền vững và truyền thông phòng tránh hạn, xâm nhập mặn tại 5 tỉnh, thành vùng ĐBSCL và tỉnh Tây Ninh”.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Theo báo cáo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, tình trạng thiếu nước cục bộ vẫn xảy ra do phân bố nguồn nước chưa đồng đều, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ và tác động ngày càng lớn của xâm nhập mặn.TS Trần Thái Hùng, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết, những năm gần đây, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL có xu hướng xuất hiện sớm hơn, kéo dài hơn và gia tăng cường độ dưới tác động của biến đổi khí hậu cùng sự suy giảm nguồn nước ngọt từ thượng nguồn. 

 Ban tổ chức cũng chia sẻ nhiều kinh nghiệm, mô hình tích trữ nước phân tán phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng tránh hạn mặn; đồng thời triển khai chiến lược công tác khuyến nông phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hội thảo cũng giới thiệu mô hình nông nghiệp bền vững hướng tới tương lai (Forward Farming) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo.Theo TS. Hồng Minh Hoàng, Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, việc trữ nước trên ruộng lúa trước các đợt xâm nhập mặn, kết hợp sử dụng nước tiết kiệm và tái sử dụng nước là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng thích ứng cho sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Ông cũng đề xuất hình thành các ô thủy lợi nội đồng đồng bộ để chủ động cấp, tiêu và trữ nước phục vụ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.Các chuyên gia cũng cảnh báo, ĐBSCL thời gian tới sẽ tiếp tục chịu tác động của nước biển dâng, sụt lún nền đất và gia tăng nhu cầu sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mekong. Theo Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, nhu cầu sử dụng nước tại các quốc gia thượng lưu đến năm 2040 có thể tăng 50-60%, tạo thêm áp lực lên nguồn nước mùa khô vùng hạ lưu ĐBSCL.Để bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, nông dân cần chú ý áp dụng các mô hình tích trữ nước phân tán phù hợp từng loại cây trồng. Cụ thể như trữ nước trên ruộng lúa ở mức tối đa trước thời điểm được dự báo xâm nhập mặn cao hoặc tích trữ nước trong ao, mương vườn cây ăn trái trong mùa khô hạn.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

 

Trữ nước thích ứng hạn mặn

 

Bỏ thủ tục cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất ở cấp tỉnh

Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ.

 Nghiêm cấm khai thác, hành nghề khoan nước dưới đất khi chưa được cấp phép

Quy định việc di chuyển, thay đổi hoặc giải thể trạm quan trắc nước dưới đất

Đồng Nai công khai kết quả quan trắc nước dưới đất

Đâu là vùng cấm và vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tại TP Huế?

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1693/QĐ-BNNMT công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực tài nguyên nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Ảnh: Hoàng Hoan.Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Ảnh: Hoàng Hoan.

Theo đó, thủ tục “Cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Đây là thủ tục trước đây áp dụng trong quản lý hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, song hiện không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và định hướng cải cách hành chính.

 Việc bãi bỏ thủ tục này được thực hiện theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP của Chính phủ, qua đó góp phần đổi mới phương thức quản lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, giảm bớt các khâu trung gian, tạo môi trường thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình hoạt động.

Cùng với đó, các nội dung có liên quan tại Quyết định số 248/QĐ-BNNMT trước đây cũng được bãi bỏ nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/4/2026.

Việc cắt giảm thủ tục hành chính lần này tiếp tục khẳng định quyết tâm của ngành trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời góp phần sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Bỏ thủ tục cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất ở cấp tỉnh

 

Đà Nẵng mở rộng mạng lưới cấp nước sạch nông thôn

TP. Đà Nẵng đang mở rộng mạng lưới, đầu tư hạ tầng cấp nước nhằm nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt chuẩn lên 65% vào cuối năm 2026.

Đà Nẵng: Đảm bảo nước sinh hoạt là ưu tiên hàng đầu trong mọi tình huống

Vĩnh Long ban hành giá nước sạch nông thôn mới

Phát động tuần lễ Quốc gia Nước sạch và vệ sinh Môi trường nông thôn

UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chỉ tiêu tỷ lệ hộ gia đình nông thôn sử dụng nước sạch theo quy chuẩn với  mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 65% vào cuối năm 2026.

Để đạt mục tiêu trên, thành phố sẽ rà soát, xác định cụ thể phạm vi khu vực nông thôn và số hộ dân làm cơ sở xây dựng phương án cấp nước. Đồng thời, tổ chức khảo sát, thống kê thực trạng sử dụng nước; phân loại các hộ đã có nước sạch, hộ thuộc khu vực có mạng lưới nhưng chưa đấu nối và hộ ở vùng chưa có hạ tầng cấp nước.

Người dân xã đảo Tam Hải thường xuyên thiếu nước sinh hoạt vào mùa hè. Ảnh: L.A.Người dân xã đảo Tam Hải thường xuyên thiếu nước sinh hoạt vào mùa hè. Ảnh: L.A.

Theo kế hoạch, nhiều công trình cấp nước sẽ được đầu tư, nâng cấp với tổng kinh phí dự kiến khoảng 86,85 tỷ đồng, tập trung vào mở rộng mạng lưới, xây dựng công trình cấp nước và hỗ trợ thiết bị cho người dân ở vùng khó khăn.

Song song với đầu tư hạ tầng, thành phố cũng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân tại các khu vực đã có hệ thống cấp nước thực hiện đấu nối sử dụng nước sạch; khuyến khích các hộ dân có điều kiện lắp đặt máy lọc nước RO nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt.

UBND TP. Đà Nẵng giao Sở NN-MT chủ trì theo dõi, đôn đốc triển khai kế hoạch; các sở, ngành liên quan phối hợp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao. UBND cấp xã chịu trách nhiệm trực tiếp trong công tác khảo sát, đề xuất đầu tư và vận động người dân tham gia sử dụng nước sạch. Trường hợp không hoàn thành mục tiêu đề ra, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ phải chịu trách nhiệm trước UBND thành phố.

 

Người dân giám sát chất lượng nguồn nước tại ven sông Cu Đê (Đà Nẵng). Ảnh: L.A.Người dân giám sát chất lượng nguồn nước tại ven sông Cu Đê (Đà Nẵng). Ảnh: L.A.

Theo Sở NN-MT TP Đà Nẵng, hiện tỷ lệ cấp nước sạch ở khu vực nông thôn trên địa bàn đạt hơn 60%. Sau khi sáp nhập 2 địa phương, đến nay, Đà Nẵng đã phát triển mạng lưới cấp nước cho các thôn Tà Lang, Giàn Bí, Nam Mỹ... tại phường Hải Vân; tháo gỡ khó khăn đối với 2 dự án nhà máy nước sạch Bắc Trà My (xã Trà My) và Trung Phước (xã Quế Sơn); ưu tiên đầu tư Nhà máy nước Phú Thuận có công suất 7.000m3/ngày phục vụ cho vùng B Đại Lộc trước đây....

Ngoài ra, theo ông Trương Xuân Tý, Phó Giám đốc Sở NN-MT TP Đà Nẵng, trong kế hoạch thực hiện Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (theo Quyết định số 145 ngày 2/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ), có công trình điều tiết nguồn nước và chỉnh trị sông Quảng Huế; đập ngăn mặn trên sông Vĩnh Điện; nâng cấp hệ thống thủy lợi An Trạch (gồm các đập dâng An Trạch, Thanh Quýt, Bàu Nít, Hà Thanh) và được đầu tư bằng nguồn vốn Trung ương.

Sở đã đề nghị UBND thành phố có ý kiến với Bộ NN-MT chuyển nhiệm vụ đầu tư những công trình này về cho thành phố để thực hiện được nhanh chóng. Cùng với đó, nghiên cứu đầu tư công trình ngăn mặn, giữ ngọt cho hạ lưu sông Thu Bồn.

“Khi thực hiện đồng bộ 4 công trình nói trên, nguồn nước ở lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn được đảm bảo sử dụng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, người dân không còn sợ bị nhiễm mặn nguồn nước”, ông Trương Xuân Tý nói.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Đà Nẵng mở rộng mạng lưới cấp nước sạch nông thôn

 

Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm ngành nước với châu Á

Việt Nam vừa tham dự Hội nghị Hội đồng Nước châu Á (AWC 24) tại Manila (Philippines) nhằm thúc đẩy hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm ngành nước. Hội nghị do Hội đồng Nước châu Á (AWC) chủ trì, phối hợp với các đơn vị nòng cốt của ngành nước Philippines như Công ty Cấp nước Manila (MWCI) và Công ty Dịch vụ nước Maynilad (MWSI) tổ chức, quy tụ đông đảo lãnh đạo cấp cao của nhiều nước châu Á, nhà hoạch định chính sách, các tổ chức quốc tế, chuyên gia và doanh nghiệp trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Đây là diễn đàn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy hợp tác khu vực, chia sẻ kinh nghiệm và định hình các sáng kiến chiến lược cho phát triển bền vững ngành nước.

Mở rộng hợp tác quốc tế, hướng tới phát triển bền vững ngành nước

Trong khuôn khổ chương trình, Liên đoàn trưởngLiên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc(NVWATER), ông Nguyễn Chí Nghĩa đã tham dự các hoạt động chuyên môn và đối thoại chính sách, bao gồm Hội thảo kỹ thuật, Diễn đàn doanh nghiệp ngành nước, các phiên thảo luận chuyên đề, hoạt động kết nối hợp tác (B2B) và các sự kiện bên lề.

Đặc biệt, tại Phiên họpHội đồng AWC lần thứ 24(Board of Council - BoC), Liên đoàn trưởng Nguyễn Chí Nghĩa đã có bài phát biểu, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về công tác quy hoạch, điều tra cơ bản tài nguyên nước, quản lý tổng hợp lưu vực và chương trình ODA xanh năm 2026.

Phiên họp khởi động tuần nước châu Á năm 2027 (AIWW 2027). Ảnh: CN.

Những nội dung đóng góp của đoàn Việt Nam được các đại biểu đánh giá cao, góp phần làm phong phú thêm các thảo luận chiến lược của AWC trong bối cảnh khu vực đang đối mặt với nhiều thách thức về tài nguyên nước.

Thông qua các hoạt động tại hội nghị, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra nước miền Bắc đã tích cực trao đổi, thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực quy hoạch tài nguyên nước, quản lý lưu vực, giám sát - vận hành hệ thống cấp nước và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ngành nước.

Việc tham dự Hội nghị AWC tại Manila tiếp tục khẳng định vai trò và vị thế của Liên đoàn trong các diễn đàn hợp tác khu vực về tài nguyên nước. Thông qua các hoạt động chuyên môn và đối thoại chính sách, đại diện Việt Nam không chỉ đóng góp tích cực vào các nội dung thảo luận mà còn thúc đẩy kết nối, mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế trong khuôn khổ Asia Water Council.

Liên đoàn trưởng Nguyễn Chí Nghĩa đánh giá cao công tác tổ chức chuyên nghiệp của AWC và sự đón tiếp chu đáo từ phía Philippines, coi đây là nền tảng quan trọng hướng tới thành công của Tuần lễ Nước Quốc tế châu Á lần thứ 4 sẽ diễn ra vào tháng 9/2027.

Ông Nghĩa cho biết, trong thời gian tới, Liên đoàn sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thúc đẩy các sáng kiến quản trị tài nguyên nước bền vững, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối thoại chính sách, chia sẻ kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước

Tại hội nghị, các phiên thảo luận đã tập trung vào những vấn đề cốt lõi của ngành nước hiện nay, bao gồm: An ninh nguồn nước trong bối cảnh gia tăng rủi ro khí hậu và suy giảm tài nguyên; quản trị nước và cấp nước thông minh, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong ngành nước; tài chính nước và huy động nguồn lực đầu tư; bảo vệ hệ sinh thái nước và phát triển bền vững; tăng cường hợp tác quốc tế và chia sẻ tri thức.

Trong đó, các nội dung về tăng cường khả năng chống chịu của hạ tầng trước tác động của biến đổi khí hậu, tài chính nước, phát triển hạ tầng số bền vững và bảo vệ hệ sinh thái nước cũng được nhiều đại biểu đặc biệt quan tâm.

Chia sẻ kinh nghiệm quản lý nước, đại diện Cơ quan quản lý cấp nước đô thị Malina cho biết, Philippines đang tích cực triển khai các chương trình hiện đại hóa hệ thống cấp nước đô thị, thúc đẩy đổi mới thể chế và tăng cường hợp tác quốc tế. Sự tham gia chủ động của các doanh nghiệp ngành nước như MWCI, MWSI tiếp tục khẳng định vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển ngành nước theo hướng hiệu quả và bền vững.

Một trong những nội dung trọng tâm của hội nghị là Hội nghị khởi động Tuần lễ Nước Quốc tế châu Á lần thứ 4 (Asia International Water Week - AIWW), dự kiến tổ chức vào tháng 9/2027 tại Philippines. Các thành viên AWC đã thể hiện sự đồng thuận cao về chủ trương tổ chức, đồng thời thống nhất các định hướng nội dung chính của sự kiện.

Nguồn: mae.gov.vn

Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm ngành nước với châu Á

 
Trang 12345678910

Trang 1 trong tổng số 50 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay74
mod_vvisit_counterTrong tuần2160
mod_vvisit_counterTrong tháng13934
mod_vvisit_counterTất cả8589878

We have: 23 guests online