|
Thanh Hóa Trước tác động của biến đổi khí hậu, việc bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước đang được tỉnh Thanh Hóa xác định là nhiệm vụ quan trọng, mang tính lâu dài.
Thanh Hóa cấp phép khai thác nước mặt cung cấp cho người dân vùng ven biển
Thanh Hóa xả lũ thủy điện Cẩm Thủy 1
Thanh Hóa hỗ trợ đấu nối nước sạch cho hơn 2.100 hộ gia đình
Nhờ hệ thống sông ngòi phân bố dày đặc với nhiều con sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Bưởi, sông Yên…, tỉnh Thanh Hóa sở hữu nguồn nước mặt tương đối dồi dào. Cùng với đó, tài nguyên nước dưới đất cũng phong phú, đa dạng về trữ lượng và chất lượng, góp phần quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và quá trình khai thác, sử dụng ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên quý giá này đang đứng trước nhiều thách thức về cả số lượng lẫn chất lượng.
Siết chặt quản lý Nhà nước về tài nguyên nước
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Thanh Hóa, Sở thường xuyên chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Trọng tâm là đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TNN đến các tổ chức, cá nhân, người dân, qua đó nâng cao ý thức chấp hành các quy định trong khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước.

Song song với công tác tuyên truyền, Sở NN&MT tập trung thực hiện quy hoạch TNN; triển khai các chương trình điều tra cơ bản về tài nguyên nước; xây dựng và thực hiện các đề án, dự án phục vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực TNN trên địa bàn tỉnh. Công tác rà soát, lập danh sách các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất thuộc diện phải nộp tiền cấp quyền khai thác TNN cũng được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
Hằng năm, các đơn vị chức năng của Sở NN&MT đều tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về TNN. Nội dung kiểm tra tập trung vào hoạt động khai thác, sử dụng nước; xả nước thải vào nguồn tiếp nhận; công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra. Kết quả kiểm tra trong năm 2025 cho thấy, trên địa bàn tỉnh không phát sinh các vụ việc phức tạp, nổi cộm trong lĩnh vực TNN. Phần lớn các tổ chức, đơn vị đã chấp hành tốt các quy định pháp luật, khai thác và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; chú trọng đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.
Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả sử dụng nước
Cùng với công tác quản lý, giám sát, tỉnh ta đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ hành lang nguồn nước. Từ năm 2019 đến nay, các cơ quan chức năng tỉnh Thanh Hóa đã cắm hơn 1.600 mốc hành lang bảo vệ nguồn nước tại 66 đoạn sông, suối trên toàn tỉnh. Việc cắm mốc không chỉ góp phần ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai, xây dựng công trình trái phép mà còn bảo đảm sự ổn định bờ sông, phòng ngừa các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; đồng thời bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và cảnh quan môi trường ven sông, suối.

Trước tác động ngày càng rõ rệt của BĐKH, nhất là tình trạng xâm nhập mặn trong mùa khô, Sở NN&MT đã chỉ đạo các đơn vị chức năng triển khai điều tra, quan trắc triều - mặn trên các hệ thống sông lớn như sông Mã, sông Yên, sông Bạng. Trong năm 2025, Chi cục Thủy lợi đã tổ chức hai đợt quan trắc tại nhiều trạm trọng điểm, cung cấp chuỗi số liệu quan trọng phục vụ công tác dự báo, điều hành sản xuất và sinh hoạt. Trên cơ sở kết quả quan trắc, ngành chức năng khuyến cáo các địa phương nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, xâm nhập mặn cần chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, sử dụng nước tiết kiệm và hợp lý.
Bên cạnh đó, tỉnh và các ngành liên quan cũng triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng chắn sóng, chắn cát ven biển để giảm thiểu tác động của BĐKH đến TNN, hạn chế nguy cơ cạn kiệt và suy thoái nguồn nước. Nhiều mô hình sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả đã và đang được xây dựng, nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.
Những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa đã đầu tư, nâng cấp hàng chục hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, cống, âu; đồng thời xây dựng, tu bổ nhiều công trình đê điều nhằm tăng khả năng trữ nước và bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt trong điều kiện hạn hán gia tăng do BĐKH.
Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước là nhiệm vụ không chỉ của riêng ngành chức năng mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu đan xen, mỗi tổ chức, cá nhân cần nâng cao trách nhiệm, chung tay gìn giữ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này vì mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Nghị định 346/NĐ-CP siết chặt quy định phí nước thải dựa trên mức độ ô nhiễm, minh bạch trách nhiệm thu - chi nhằm tạo nguồn lực bền vững cho hạ tầng môi trường.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy địnhphí bảo vệ môi trườngđối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. Việc ban hành Nghị định mới không chỉ điều chỉnh mức thu, đối tượng và phương thức quản lý phí, mà còn thể hiện rõ định hướng đổi mới chính sách môi trường theo hướng tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm, phù hợp hơn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.
Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Theo Nghị định 346/NĐ-CP, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tiếp tục được áp dụng đối với hai nhóm chính là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.
Đối với nước thải sinh hoạt, mức phí được xác định tương đương 10% giá bán 1 m³ nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trên cơ sở khung chung này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức phí cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo vệ môi trường và năng lực hạ tầng thoát nước,xử lý nước thảicủa từng địa phương.
Đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định nguyên tắc xác định phí gắn với lưu lượng và tính chất nước thải, qua đó tạo áp lực kinh tế trực tiếp buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải tăng cường kiểm soát ô nhiễm, đầu tư hệ thống xử lý đạt quy chuẩn. Cách tiếp cận này phản ánh rõ quan điểm “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tái sử dụng nước, giảm phát sinh nước thải, hướng tới mô hình sản xuất xanh và phát thải thấp.
Xác định rõ đối tượng chịu phí và các trường hợp miễn phí
Bên cạnh việc điều chỉnh cách tính phí, Nghị định 346/NĐ-CP cũng làm rõ phạm vi các đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, nhằm khắc phục những bất cập, chồng chéo trong quá trình áp dụng trước đây. Theo đó, đối tượng chịu phí là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.
Đối với nước thải công nghiệp, đối tượng chịu phí bao gồm toàn bộ nước thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Quy định này bảo đảm bao quát đầy đủ các nguồn thải công nghiệp, hạn chế tình trạng “lọt lưới” trong quản lý, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác thu phí và kiểm soát ô nhiễm.
Nghị định xác định đối tượng chịu phí bao gồm nước thải sinh hoạt thông thường và nước thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Đối với nước thải sinh hoạt, Nghị định xác định đối tượng chịu phí bao gồm nước thải sinh hoạt thông thường và nước thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đáng chú ý, các cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m³/ngày, tương ứng 7.300 m³/năm, trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cung cấp nước sạch cũng thuộc diện chịu phí nước thải sinh hoạt. Quy định này góp phần mở rộng phạm vi điều tiết, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường nước ngay cả đối với các cơ sở có quy mô nhỏ.
Song song với việc xác định đối tượng chịu phí, Nghị định 346/NĐ-CP quy định cụ thể 10 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Các trường hợp này bao gồm nước xả ra từ nhà máy thủy điện không qua công đoạn có khả năng gâyô nhiễm; nước biển dùng vào sản xuất muối; nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khu vực chưa có hệ thống cung cấp nước sạch; nước trao đổi nhiệt; nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ phương tiện đánh bắt thủy sản; nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung đô thị; nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản; nước thải được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản.
Việc quy định rõ ràng, cụ thể các trường hợp miễn phí không chỉ tránh thu phí tràn lan mà còn bảo đảm tính nhân văn, công bằng của chính sách. Đây là yếu tố quan trọng để chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhận được sự đồng thuận cao từ người dân và doanh nghiệp trong quá trình triển khai.
Minh bạch thu - quản lý phí, tạo nguồn lực cho hạ tầng môi trường
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định 346/NĐ-CP là việc làm rõ trách nhiệm của các tổ chức thu, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thực thi chính sách. Đối với nước thải sinh hoạt, phí được thu thông qua tổ chức cung cấp nước sạch. Cách thức này giúp giảm chi phí hành chính, thuận tiện cho người dân, đồng thời hạn chế thất thoát trong quá trình thu nộp.
Theo Nghị định, tổ chức cung cấp nước sạch được để lại 10% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí. Trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ để lại phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhưng tối đa không quá 10%. Số tiền phí được để lại được xác định là doanh thu của tổ chức cung cấp nước sạch và phải thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Quy định này vừa bảo đảm nguồn kinh phí cho công tác thu phí, vừa tăng cường trách nhiệm và tính minh bạch của các đơn vị liên quan.
Đối với nước thải công nghiệp, trách nhiệm thu phí được giao cho cơ quan quản lý nhà nước hoặc đơn vị được ủy quyền, gắn với hệ thống quản lý môi trường hiện hành. Việc phân định rõ trách nhiệm thu và quản lý phí góp phần bảo đảm sự thống nhất trongkiểm soát nguồn thải, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm.
Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sẽ được sử dụng cho công tác duy tu, sửa chữa và đầu tư phát triển hạ tầng môi trường, đặc biệt là hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng để các địa phương từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, cải thiện chất lượng môi trường nước và nâng cao chất lượng sống của người dân
Nguồn: bonongnghiepvamoitruong
|
|
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành các quyết định thành lập 4 Ủy ban lưu vực sông khu vực: Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Theo các quyết định: Quyết định số 2756/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Bộ; Quyết định số 2758/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Trung Bộ; Quyết định số 2759/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ; Quyết định số 2760/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Đông Nam Bộ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường là Chủ tịch 4 Ủy ban trên.
Phó Chủ tịch Thường trực là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thứ trưởng Bộ Công Thương, Thứ trưởng Bộ Xây dựng làm Phó Chủ tịch.
Một đoạn lưu vực sông Hồng nhìn từ trên cao. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Các quyết định nêu rõ, các Ủy ban nêu trên là tổ chức phối hợp liên ngành, giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối nguồn nước, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông, việc phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra và tham gia, phối hợp giải quyết các vấn đề có tính liên ngành, liên vùng, liên địa phương trên các lưu vực sông liên tỉnh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.
Cụ thể, Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng và các lưu vực sông ven biển Quảng Ninh.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Trung Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Mã, Cả, Hương và các lưu vực sông khác, gồm: sông Tống, sông Yên, sông Lạch Bạng, sông Gianh, sông Ô Lâu.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Kôn - Hà Thanh và các lưu vực sông khác gồm: sông Lại Giang, sông Kỳ Lộ, sông Cái Ninh Hòa, sông Cái Nha Trang, sông Cái Phan Rang.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Đông Nam Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Đồng Nai và các lưu vực sông khác gồm sông Dinh, sông Đu Đủ và sông Ray...
Nguồn: bonongnghiepvamoitruong
|
|
Nghệ An tăng cường quản lý, giám sát vận hành hồ chứa và liên hồ chứa nhằm ứng phó thiên tai, giảm thiểu ngập lụt, bảo đảm an toàn cho người dân vùng hạ du.
Tăng 'sức đề kháng' trước thiên tai
Ngóng điện, chờ nước để về nhà mới
Gian nan nơi 4 bản vùng cao sau lũ dữ
Bão số 5 càn quét: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh tan hoang sau một đêm
Tại phiên chất vấn của Kỳ họp thứ 35, HĐND tỉnh Nghệ An khóa XVIII, nội dung về hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sinh kế bền vững tiếp tục thu hút nhiều sự quan tâm của đại biểu và cử tri. Trong đó, vấn đề quản lý, giám sát vận hành hồ chứa và liên hồ chứa - yếu tố có tính quyết định trong việc phòng chống lũ, giảm thiểu thiệt hại vùng hạ du được đặt ra với nhiều câu hỏi sâu sát, phản ánh những băn khoăn chính đáng từ thực tiễn sau các đợt mưa lũ lớn năm 2025.
Làm rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm soát vận hành hồ chứa
Đại biểu Nguyễn Thị Thúy An (Tổ đại biểu số 19) đã chất vấn về công tác quản lý, theo dõi và điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa trước những thiệt hại nặng nề do ngập lụt tại miền Tây Nghệ An. Trả lời nội dung này, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Quốc Việt cho biết, toàn tỉnh Nghệ An hiện có 23 hồ thủy điện và 2 hồ thủy lợi lớn (Sông Sào, Vực Mấu), tất cả đều có đầy đủ phương án phòng chống thiên tai, bảo vệ đập và ứng phó khẩn cấp. Đồng thời, hai quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Cả và sông Mã đã được Thủ tướng phê duyệt, tạo cơ sở quan trọng cho việc điều tiết lũ.
Lũ về rất lớn trên sông Lam do ảnh hưởng của cơn bão số 3 vào tháng 7/2025. Ảnh: Đình Tiệp.
Theo Giám đốc Hoàng Quốc Việt, các Sở, ngành cấp tỉnh đã chủ động phối hợp chặt chẽ trong theo dõi, giám sát vận hành, đặc biệt là ban hành văn bản chỉ đạo ngay từ đầu năm để đảm bảo quy trình xả lũ phù hợp, kịp thời. Ông nhấn mạnh, công tác chỉ đạo sớm và nhanh trong vận hành hồ chứa là yêu cầu bắt buộc, bởi khi mưa lớn diễn ra tại miền Tây Nghệ An kết hợp với lượng nước từ Lào đổ về, bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể gây thiệt hại rất lớn cho vùng hạ du.
Trước những diễn biến thiên tai cực đoan, mưa lũ năm 2025 vượt ngưỡng lịch sử, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An đang phối hợp Sở Công Thương rà soát lại toàn bộ quy trình vận hành, làm cơ sở tham mưu điều chỉnh phù hợp hơn với bối cảnh biến đổi khí hậu.
Đại biểu chất vấn tại cuộc họp. Ảnh: Thành Cường.
Trả lời ý kiến đại biểu Lục Thị Liên về tình trạng xả lũ ban đêm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An cho biết nguyên nhân chủ yếu do lũ ống, lũ quét bất ngờ, khó dự báo. Tuy nhiên, thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục kiến nghị hoàn thiện quy trình và tăng cường kiểm soát để giảm tối đa rủi ro cho vùng hạ du.
Hiệu chỉnh quy trình vận hành, bảo đảm phù hợp hơn với thực tế
Làm rõ thêm về công tác giám sát vận hành hồ chứa, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Nghệ An Phạm Văn Hóa cho biết trước mỗi mùa mưa lũ, UBND tỉnh Nghệ An giao Sở Công Thương chủ trì thành lập đoàn kiểm tra liên ngành nhằm đánh giá toàn diện phương án ứng phó thiên tai tại tất cả hồ đập trên địa bàn. Trong thời điểm xảy ra thiên tai, tỉnh triển khai giám sát trực tuyến thông qua hệ thống quan trắc số tự động đặt tại các hồ chứa; đồng thời cử lực lượng giám sát trực tiếp, theo dõi việc thực hiện phương án phòng chống thiên tai.
Ông Phạm Văn Hóa, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Nghệ An trả lời chất vấn. Ảnh: Thành Cường.
Ngay sau lũ, các đoàn công tác tiếp tục được thành lập để đánh giá lại quá trình vận hành và mức độ thiệt hại nhằm rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh phương án trong thời gian tới. Đây là quy trình khép kín, đảm bảo tính giám sát nhiều tầng nhằm hạn chế nguy cơ sai sót trong vận hành.
Giám đốc Sở Công thương tỉnh Nghệ An cũng chia sẻ băn khoăn của cử tri về việc quy trình vận hành hồ chứa đã thực sự tối ưu hay chưa. Ông cho biết: Các phương án vận hành được xây dựng dựa trên dữ liệu thủy văn quá khứ; tuy nhiên biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra với tần suất dày hơn khiến việc dựa vào số liệu lịch sử không còn đảm bảo chính xác tuyệt đối. Vì vậy, ngành Công Thương đang cập nhật lại số liệu thủy văn, tham mưu các cơ quan chức năng hiệu chỉnh quy trình vận hành, bảo đảm phù hợp hơn với thực tế mới.
Kiểm tra công tác vận hành hồ thủy điện Bản Vẽ. Ảnh: EVNGENCO1.
Một nội dung quan trọng được ông Phạm Văn Hóa nhấn mạnh là vai trò của chính quyền cơ sở. Cấp xã là nơi nắm sát địa bàn, trực tiếp triển khai ứng phó, hỗ trợ người dân khi có sự cố. Do đó, tỉnh Nghệ An cần đánh giá lại khả năng ứng phó ở cấp xã về con người, trang thiết bị và phương án hành động để có hướng đầu tư, bổ sung, nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai từ cơ sở.
Việc tăng cường giám sát, chủ động rà soát và điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa tại Nghệ An cho thấy quyết tâm của tỉnh trong bảo đảm an toàn, giảm thiểu thiệt hại cho người dân vùng hạ du trước diễn biến phức tạp của thiên tai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng sâu sắc, yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý hồ chứa là phải liên tục cập nhật, linh hoạt, khoa học và chặt chẽ hơn, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản và duy trì phát triển bền vững cho tỉnh trong những năm tới.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Ô nhiễm sông hồ gia tăng cần thiết phải đánh giá sức chịu tải để kiểm soát xả thải, bảo vệ chất lượng nước và tạo nền tảng phát triển đô thị xanh, bền vững.
Đánh giá sức chịu tải các lưu vực sông
Gia Lai: Đánh giá sức chịu tải môi trường và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm lưu vực sông
Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước 3 lưu vực sông
Tổng cục Môi trường sẽ tập trung xử lý chất thải rắn, ô nhiễm không khí, nguồn nước
Tình trạng ô nhiễm sông, hồ đang trở thành thách thức lớn đối với nhiều địa phương. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, việc đánh giá khả năng chịu tải của sông để biết được mức ô nhiễm tối đa mà dòng nước có thể tiếp nhận mà vẫn tự làm sạch được coi là giải pháp quan trọng để phát triển đô thị xanh và bền vững.
Nhiều sông ô nhiễm vượt ngưỡng
Sông Phan bắt nguồn từ dãy Tam Đảo, chảy qua nhiều xã của tỉnh Phú Thọ. Đây là nguồn nước quan trọng cho tưới tiêu và thoát lũ. Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Phúc (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ), nhiều năm qua, sông chịu áp lực lớn từ nước thải sinh hoạt chưa xử lý, nước thải công nghiệp, làng nghề và dư lượng hóa chất nông nghiệp.
Một số dòng sông ở nước ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ảnh: Minh Anh.
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) trong khuôn khổ dự án “Lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh” do Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chủ trì, nhiều đoạn sông Phan đã vượt ngưỡng chịu tải, đặc biệt tại khu vực đô thị Vĩnh Yên. Đầm Vạc - hồ nước nội đô cũng có khả năng tự làm sạch hạn chế, nhất là vào mùa khô.
Kết quả quan trắc của Dự án cho thấy các thông số Amoni, Nitrit và kim loại nặng tại nhiều điểm vượt quy chuẩn QCVN 08-MT:2023/BTNMT, tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái. Một số đoạn sông thậm chí không còn khả năng tiếp nhận thêm nước thải nếu không được xử lý đạt chuẩn.
Thực trạng này không chỉ xảy ra tại Phú Thọ mà còn ở nhiều đô thị nơi Dự án đang triển khai như Ninh Bình, Huế và Hà Tĩnh. Tại Ninh Bình, theo báo cáo chất lượng môi trường khu vực miền Bắc tháng 8/2025 của Cục Môi trường, lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang ô nhiễm nghiêm trọng, với chất lượng nước ở mức xấu đến rất xấu.
Mặt khác, theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cũng chỉ ra rằng, nhiều đoạn sông thuộc các hệ thống sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, Hương, Tô Lịch, Kim Ngưu… có chỉ số chất lượng nước rất thấp (WQI ≤ 30), phản ánh tình trạng ô nhiễm kéo dài và yêu cầu các giải pháp cải thiện cấp bách.
Đánh giá khả năng chịu tải, yêu cầu không thể trì hoãn
Đánh giá khả năng chịu tải giữ vai trò trung tâm trong quản lý tài nguyên nước. Đây là cơ sở để xác định ngưỡng xả thải tối đa cho từng đoạn sông, đồng thời phân vùng và khoanh định những đoạn còn khả năng tiếp nhận hay đã vượt tải. Công việc này có ý nghĩa then chốt trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước.
Kết quả đánh giá giúp cơ quan quản lý xác định mức tải lượng tối đa mà sông có thể tiếp nhận, làm căn cứ cấp phép xả thải, điều chỉnh quy hoạch phát triển và hạn chế tình trạng môi trường bị quá tải. Đồng thời, hỗ trợ nhận diện các đoạn sông ô nhiễm, ưu tiên phục hồi và bố trí nguồn lực phù hợp. Đây cũng là công cụ quan trọng giúp các địa phương ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững lưu vực.
Tại Phú Thọ, mô hình động QUAL2K đã được áp dụng để mô phỏng khả năng chịu tải của sông Phan và Đầm Vạc với các thông số DO, BOD, Amoni, Nitrat, Photphat… Kết quả mô phỏng cho thấy rõ các đoạn sông đã quá tải, từ đó đề xuất phương án xử lý, phân vùng xả thải và xây dựng hạ tầng môi trường phù hợp. Đây là bước chuyển quan trọng, từ bị động xử lý sau ô nhiễm sang chủ động kiểm soát trước ô nhiễm.
Các chuyên gia kiến nghị cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về đánh giá sức chịu tải của các dòng sông. Ảnh: Minh Anh.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, nếu không đánh giá và quản lý sức chịu tải, việc xử lý ô nhiễm chỉ là giải pháp ngắn hạn, không đủ để “cứu” các dòng sông đang bị bức tử bởi nước thải chưa xử lý.
Cần mở rộng đánh giá sông hồ trên toàn quốc
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đánh giá khả năng chịu tải đã trở thành công cụ quản lý bắt buộc. Tại Hoa Kỳ, khung quy định về “tổng tải lượng tối đa cho phép” được triển khai theo Đạo luật Nước sạch, giúp xác định khả năng tiếp nhận ô nhiễm của dòng sông và đưa ra mức xả thải tối đa cho từng nguồn.
Nhật Bản áp dụng chính sách đồng bộ ở cấp trung ương và địa phương. Việc đánh giá khả năng chịu tải gắn liền với bản đồ GIS và mô hình hóa lan truyền ô nhiễm để xác định “các vùng xả thải ưu tiên”.
Liên minh châu Âu triển khai Chỉ thị khung về nước, yêu cầu các quốc gia thành viên đánh giá toàn diện chất lượng nước, xác định mục tiêu và lập kế hoạch quản lý theo chu kỳ 6 năm. Điều này tạo ra sự phối hợp xuyên biên giới trong quản lý lưu vực sông, đặc biệt ở các hệ thống sông liên quốc gia như Danube.
Các nước như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan cũng đã áp dụng chỉ số WQI (Water Quality Index) để đánh giá chất lượng nước một cách dễ hiểu và phổ biến với cộng đồng, đồng thời sử dụng hệ thống giám sát tự động và ứng dụng công nghệ GIS để xác định điểm nóng ô nhiễm.
Ở Việt Nam, việc đánh giá sức chịu tải của các dòng sông đã được quy định và bước đầu triển khai ở một số địa phương. Tuy nhiên, năng lực mô hình hóa còn hạn chế, dữ liệu chưa đồng bộ, chưa có hướng dẫn kỹ thuật thống nhất và cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông.
Các chuyên gia dự án “Lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh” kiến nghị cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về đánh giá sức chịu tải, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cấp phép môi trường. Song song, phải xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp chất lượng nước, nguồn thải và kết quả mô hình hóa; mở rộng thí điểm mô hình quản lý tích hợp lưu vực sông tại các đô thị; tăng cường năng lực mô hình hóa, phân tích dữ liệu cho địa phương; và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, chuyển giao công nghệ.
Đánh giá khả năng chịu tải không chỉ là một quy trình kỹ thuật mà là chiến lược quản lý dài hạn, giúp phục hồi hệ sinh thái sông, bảo đảm an ninh nguồn nước và tạo nền tảng cho phát triển đô thị xanh, bền vững.
Nếu không sớm đánh giá và quản lý khả năng chịu tải, nhiều dòng sông khác cũng sẽ đi vào vết xe đổ, trở thành nơi tiếp nhận nước thải không giới hạn, mất khả năng tự làm sạch và kéo theo hệ lụy môi trường - xã hội nghiêm trọng.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|