WARAPO - Trung tâm Chất lượng và Bảo vệ tài nguyên nước
Rạn san hô Great Barrier đối mặt với tình trạng san hô chết hàng loạt tệ nhất trong lịch sử
Thứ ba, 19 Tháng 11 2024 09:45

Ngày 19/11, nghiên cứu của Viện Khoa học Hàng hải Australia tiết lộ một số khu vực của Rạn san hô Great Barrier đang phải chịu tỷ lệ tử vong cao nhất trong lịch sử, trong khi các nhà khoa học lo ngại phần còn lại của rạn san hô này có nguy cơ chịu chung số phận.

Chú thích ảnhRạn san hô Great Barrier ở Australia bị tẩy trắng nghiêm trọng. Ảnh: AFP/TTXVN

Rạn san hô Great Barrier, thường được gọi là cấu trúc sống lớn nhất thế giới, trải dài 2.300 km (1.400 dặm) và là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển đặc biệt. Tuy nhiên, các sự kiện tẩy trắng hàng loạt lặp đi lặp lại trong những năm qua đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho khu vực.

Tẩy trắng san hô xảy ra khi nhiệt độ nước tăng cao khiến san hô thải ra tảo (zooxanthellae), loại tảo mà chúng dựa vào làm thức ăn. Nếu không có tảo, san hô sẽ chuyển sang màu trắng và nếu nhiệt độ cao kéo dài, chúng có thể chết.

Theo đó, các cuộc khảo sát 12 rạn san hô trong khu vực đã phát hiện ra tỷ lệ tử vong lên tới 72%. Con số đáng báo động này được cho là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm một mùa hè san hô bị tẩy trắng hàng loạt, hai cơn bão và lũ lụt nghiêm trọng.

Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ở một khu vực phía Bắc Rạn san hô Great Barrier, khoảng 1/3 san hô cứng đã chết, đánh dấu mức suy giảm hàng năm lớn nhất về sức khỏe của san hô trong 39 năm theo dõi của Chính phủ Australia.

Sự kiện tẩy trắng hàng loạt năm nay đánh dấu lần thứ 5 trong vòng 8 năm qua. Một trong những loại san hô bị ảnh hưởng nặng nề nhất là “Acropora”, tuy phát triển nhanh nhưng cũng là một trong những loài đầu tiên bị tẩy trắng và tử vong dưới tác động của nhiệt độ cực cao.

Nhà nghiên cứu Mike Emslie đã mô tả mùa hè năm ngoái là một trong những sự kiện tẩy trắng san hô nghiêm trọng nhất mà Great Barrier từng phải trải qua, với mức độ vượt qua các lần trước đó.

Ông Richard Leck, người đứng đầu bộ phận đại dương của Tổ chức Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Australia, đã cảnh báo rằng mặc dù Rạn san hô Great Barrier có khả năng phục hồi, tuy nhiên không đồng nghĩa với việc có thể chịu được các sự kiện tẩy trắng liên tục.

Theo ông Leck, khu vực được khảo sát tương đối nhỏ, với báo cáo đầy đủ, dự kiến công bố vào năm tới, sẽ cho thấy tỷ lệ tử vong tương tự trên toàn bộ rạn san hô. Ông cho rằng Chính phủ Australia cần đặt ra các mục tiêu giảm phát thải tham vọng hơn, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 90% lượng khí thải so với mức năm 2005 vào năm 2035.

Australia, một trong những nước xuất khẩu than và khí đốt lớn nhất thế giới, gần đây mới đặt ra mục tiêu đạt được mức trung hòa carbon, nhưng các nhà môi trường cho rằng cần có hành động quyết liệt hơn để ngăn chặn sự suy thoái thêm của rạn san hô và các hệ sinh thái khác.

Nguồn: baotintuc.vn

 
Hợp tác xuyên biên giới đảm bảo an ninh nguồn nước sông Mã - sông Cả
Thứ ba, 24 Tháng 3 2026 10:43

Dự án 'Thúc đẩy an ninh nguồn nước và môi trường lưu vực sông Mã-sông Cả' hướng tới giải quyết các thách thức về tài nguyên nước và bảo vệ hệ sinh thái bền vững.

Ngày 23/3 tại Hà Nội,Cục Quản lý tài nguyên nước(Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) và Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức cuộc họp tổng kết thường niên (ASM) của dự án “Thúc đẩy an ninh nguồn nước và môi trường cho lưu vực sông Mã, sông Cả và vùng ven biển liên quan”.

Tham dự cuộc họp có đại diện cơ quan quản lý của hai quốc gia, cùng các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, trường đại học và khu vực tư nhân. Đây là dịp để các bên chia sẻ kinh nghiệm, thống nhất định hướng hợp tác và đề xuất giải pháp quản lý nguồn nước theo hướng bền vững, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao sinh kế cho người dân trong lưu vựcsông Mãvà sông Cả.

Cuộc họp nhằm đánh giá tiến độ triển khai, chia sẻ kết quả bước đầu, đồng thời tăng cường đối thoại, thúc đẩy hợp tác quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới giữa Việt Nam và Lào. Ảnh: Thanh Tâm.

Hợp tác xuyên biên giới để đảm bảo an ninh nguồn nước

Phát biểu khai mạc, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, tài nguyên nước có vai trò thiết yếu đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia và cân bằng hệ sinh thái. Đối với các lưu vực sông xuyên biên giới như sông Mã vàsông Cả, việc quản lý hiệu quả nguồn nước đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, lâu dài giữa các quốc gia cùng chia sẻ.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Thanh Tâm.

Hiện nay, hai lưu vực đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi dòng chảy do thủy điện, suy giảm rừng đầu nguồn, gia tăng nhu cầu sử dụng nước, ô nhiễm và tác động của biến đổi khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh nguồn nước và sinh kế người dân.

Dự án sông Mã - sông Cả là dự án song phương đầu tiên thuộc Chương trình Nước quốc tế của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), do FAO thực hiện, IUCN triển khai, phối hợp với cơ quan quản lý tài nguyên nước của Việt Nam và Lào. Dự án gồm 5 hợp phần: phân tích chẩn đoán xuyên biên giới (TDA), thúc đẩy hợp tác, triển khai thí điểm, xây dựng chương trình hành động và nâng cao năng lực.

Dự án hướng tới giải quyết các vấn đề về tài nguyên nước và hệ sinh thái thông qua tăng cường hợp tác xuyên biên giới, qua đó nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Một nội dung trọng tâm của dự án là thực hiện Phân tích Chẩn đoán xuyên biên giới (TDA) nhằm xác định các vấn đề cốt lõi của toàn lưu vực. Kết quả bước đầu cho thấy nguy cơ ô nhiễm từ nông nghiệp, hiện tượng cá chết và xu hướng gia tăng lũ quét do thời tiết cực đoan. Báo cáo TDA dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026, làm cơ sở triển khai các dự án thí điểm và xây dựng Chương trình Hành động Chiến lược.

Dự án cũng đang đánh giá mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn tại hai nước nhằm nâng cao năng lực giám sát, phục vụ phát triển hệ thống cảnh báo sớm và thúc đẩy chia sẻ dữ liệu.

 Đáng chú ý, việc xây dựng thỏa thuận hợp tác tài nguyên nước xuyên biên giới giữa Việt Nam và Lào đang được thúc đẩy, hướng tới thiết lập khung pháp lý cho quản lý thống nhất nguồn nước.

Ông Jake Brunner, đại diện IUCN cho rằng, các vấn đề tại lưu vực sông Mã và sông Cả chỉ có thể được giải quyết hiệu quả thông qua sự hợp tác chặt chẽ giữa hai quốc gia. Theo ông Jake Brunner, thỏa thuận hợp tác đang xây dựng sẽ tạo nền tảng quan trọng để quản lý cả chất lượng và trữ lượng nước trong dài hạn.

Từ phía Lào, ông Vinvilay Sayaphone, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lào) nhấn mạnh, các thách thức tại hai lưu vực ngày càng gia tăng do tác động tổng hợp của phát triển thủy điện, thay đổi sử dụng đất, mở rộng nông nghiệp và biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, tăng cường hợp tác xuyên biên giới là yêu cầu tất yếu.

Ông Vinvilay Sayaphone khẳng định, Lào sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam trong chia sẻ dữ liệu, nâng cao năng lực giám sát và xây dựng các phương thức quản lý thống nhất, nhằm bảo đảm sử dụng nguồn nước hiệu quả, bền vững và công bằng.

Theo ông Waleed Abouelhassan, chuyên gia về đất và nước của FAO, dự án là minh chứng cho việc các phân tích khoa học và đối thoại chính sách có thể chuyển hóa thành hành động phối hợp cụ thể giữa các quốc gia, góp phần giảm thiểu rủi ro và bảo vệ hệ sinh thái lưu vực.

Lồng ghép bình đẳng giới trong quản lý nguồn nước

Cuộc họp được tổ chức nhân dịp Ngày Nước Thế giới 2026 (22/3) với chủ đề “Nước và bình đẳng giới”, nhấn mạnh vai trò của tài nguyên nước trong thúc đẩy công bằng xã hội và phát triển bền vững.

Dòng sông Mã uốn lượn trên vùng đất biên giới các tỉnh Việt - Lào. Ảnh: Mạnh Cường.

Tại cuộc họp, các đại biểu đã trao đổi về việc lồng ghép giới và thúc đẩy hòa nhập xã hội trong quản lý tài nguyên nước, trong đó có các kết quả bước đầu từ hợp phần giới của TDA.

Các ý kiến thống nhất rằng, việc bảo đảm tiếp cận công bằng với nước sạch và dịch vụ vệ sinh không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là giải pháp quan trọng nhằm giảm bất bình đẳng giới, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng khó khăn - nơi phụ nữ thường đóng vai trò chính trong việc tiếp cận và sử dụng nước.

Nguồn: mae.gov.vn

 

 
Bảo vệ hệ sinh thái nước ngọt: Hướng tới đạt mục tiêu về đa dạng sinh học
Thứ ba, 05 Tháng 11 2024 08:40

Việc giám sát chất lượng nước hiệu quả là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và thực hiện các mục tiêu đa dạng sinh học tập trung vào nước

Việc giám sát chất lượng nước hiệu quả là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và thực hiện các mục tiêu đa dạng sinh học tập trung vào nước

Thế giới đã trải qua nhiều thập kỷ quản lý sai nguồn dự trữ nước ngọt, cản trở tiến trình hướng tới các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).
Theo báo cáo gần đây của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), khoảng 50% các quốc gia trên toàn cầu có một hoặc nhiều loại hệ sinh thái liên quan đến nước ngọt - sông, hồ, đất ngập nước hoặc tầng chứa nước ngầm - đang trong tình trạng suy thoái. Các vùng nước bị suy thoái là những vùng nước bị ô nhiễm hoặc có mực nước thấp.

Khôi phục và bảo vệ hệ sinh thái nước ngọt là một nội dung quan trọng của Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh-Montreal, thỏa thuận trên toàn hành tinh nhằm ngăn chặn và đảo ngược tình trạng mất đa dạng sinh học. Khung này bao gồm 23 mục tiêu được thiết lập để bảo vệ thế giới tự nhiên và sẽ đến hạn vào năm 2030.

Bà Sinikinesh Beyene Jimma thuộc Chi nhánh Biển và Nước ngọt tại UNEP cho biết: "Sông là một trong những hệ sinh thái đa dạng nhất trên hành tinh. Do tầm quan trọng của sông ngòi và các hệ sinh thái nước ngọt khác đối với an ninh lương thực, xây dựng khả năng phục hồi và đa dạng sinh học của thế giới, việc sử dụng và quản lý bền vững chúng là rất quan trọng để đảm bảo duy trì các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu và đáp ứng các cam kết của Khung đa dạng sinh học toàn cầu”.

Việc giám sát chất lượng nước hiệu quả là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và thực hiện các mục tiêu đa dạng sinh học tập trung vào nước
Khi đại diện từ 196 quốc gia thảo luận về việc thực hiện Khung đa dạng sinh học toàn cầu tại Hội nghị lần thứ 16 Các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (COP16) tại Cali, Colombia, ngày càng có nhiều sự công nhận về giá trị của nước ngọt và nhu cầu tính đến giá trị này trong cả chính sách quốc gia và địa phương cũng như các quyết định tài chính.

Sau đây là 5 giải pháp các quốc gia có thể sử dụng nước ngọt để đạt được các mục tiêu đa dạng sinh học và phát triển bền vững toàn cầu của mình.

Triển khai các giải pháp dựa vào thiên nhiên liên quan đến nước

Các giải pháp dựa vào thiên nhiên liên quan đến nước (NbS), chẳng hạn như mái nhà "xanh" phủ đầy cây, có thể giúp quản lý nước mưa, giảm lũ lụt đô thị và cải thiện chất lượng nước, thường có chi phí thấp hơn so với cơ sở hạ tầng xám, như đường ống. Các giải pháp này cũng mang lại lợi ích cho con người và đa dạng sinh học.

Với sự hỗ trợ của dự án Thành phố phục hồi thế hệ của UNEP, các thành phố đang áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên để phục hồi các tuyến đường thủy đô thị. Ví dụ, thành phố Barranquilla của Colombia đang khôi phục lại dòng suối Leon bị ô nhiễm, chảy qua trung tâm thành phố, với sự giúp đỡ của các cộng đồng sống dọc bờ sông. Trong khi đó, Sirajganj ở Bangladesh đang tạo ra một hành lang xanh để tăng cường đa dạng sinh học xung quanh con sông của thành phố.

Đầu tư vào việc giám sát chất lượng nước

Hiện nay, 122 triệu người trên khắp thế giới đang phụ thuộc vào nguồn nước mặt chưa qua xử lý và có khả năng không an toàn. Đến năm 2030, 4,8 tỷ người có thể phải đối mặt với rủi ro về sức khỏe và sinh kế nếu việc giám sát chất lượng nước không được cải thiện. Việc giám sát chất lượng nước hiệu quả là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và thực hiện các mục tiêu đa dạng sinh học tập trung vào nước trên toàn cầu.

Những ví dụ điển hình về điều đó đến từ Sierra Leone và Zambia, nơi đang tích hợp dữ liệu khoa học công dân vào hoạt động giám sát chất lượng nước quốc gia, thu hẹp khoảng cách dữ liệu và kết nối các cộng đồng bị ảnh hưởng với các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ nguồn nước.

Tiếp thu kiến ​​thức truyền thống của người bản địa

Kiến thức truyền thống của người bản địa đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và khôi phục đa dạng sinh học trên toàn thế giới và việc đưa kiến ​​thức này vào các hoạt động bảo tồn hiện đại là rất quan trọng. Ví dụ, cộng đồng người bản địa P'ganyaw (Karen) dọc theo Sông Mae Ngao của Thái Lan đã tạo ra hơn 50 "khu bảo tồn sông cấm đánh bắt" - các khu vực được bảo vệ cấm các hoạt động khai thác để tăng trữ lượng cá.

Các khu bảo tồn nhỏ dựa vào cộng đồng này thiết lập ranh giới đánh bắt rõ ràng dọc theo sông và thực thi các hình phạt đối với hành vi vi phạm. Vì các hệ sinh thái nước ngọt được kết nối với nhau nên mạng lưới các khu bảo tồn này là mô hình để ngăn ngừa tình trạng mất đa dạng sinh học tiếp diễn. Chương trình hỗ trợ SDG 6.6.1 của UNEP, tập trung vào quản lý lưu vực nước, nhấn mạnh việc sử dụng kiến ​​thức truyền thống này thông qua việc giám sát và đánh giá những thay đổi trong hệ sinh thái nước ngọt.

Khai thác các công cụ mới để quản lý nước ngọt

Có một số nguồn lực có thể giúp các quốc gia quản lý hồ, sông và tầng chứa nước của họ. Ví dụ, Freshwater Explorer và Global Wetlands Watch của UNEP theo dõi tình trạng của các hệ sinh thái nước ngọt trên toàn thế giới. Các công cụ này nhấn mạnh nhu cầu quản lý nước để bảo vệ các hệ sinh thái nước ngọt.

Ngoài ra, Chương trình hỗ trợ quản lý tài nguyên nước tích hợp của UNEP có thể hướng dẫn các chính phủ trong nỗ lực quản lý nước tốt hơn và đạt được các mục tiêu phát triển của họ.

Áp dụng quản lý tài nguyên nước tích hợp

Việc quản lý phối hợp các hệ sinh thái nước ngọt, bao gồm thông qua quy trình được gọi là quản lý tài nguyên nước tích hợp, có thể xây dựng khả năng phục hồi trước các thảm họa liên quan đến khí hậu, như hạn hán. Ví dụ, tại Somalia đang bị hạn hán tàn phá, Liên minh Châu Âu và UNEP đang giúp các cộng đồng đào giếng khoan, phục hồi các giếng nông để tưới tiêu và đưa vào sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt mang lại hiệu quả cao cho cây trồng. Phương pháp tiếp cận toàn diện này giúp duy trì các nguồn nước sẵn có và ngăn ngừa tình trạng di dời.

Hơn 90% các thảm họa tự nhiên đều liên quan đến nước theo một cách nào đó. Các chuyên gia cho biết, việc áp dụng quản lý tài nguyên nước tích hợp là rất quan trọng để giảm tần suất và quy mô của những thảm họa này.

Nguồn tin: baotainguyenmoitruong.vn

 
Phòng Bảo vệ và Phát triển nguồn nước
Thứ hai, 30 Tháng 3 2026 00:00

a1 28 3 15-compressedVị trí và chức năng:

 Phòng Bảo vệ và Phát triển nguồn nước là tổ chức thuộc Trung tâm Chất lượng và Bảo vệ tài nguyên nước, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Trung tâm tổ chức thực hiện các đề án, dự án, nhiệm vụ chuyên môn, đề tài khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực bảo vệ tài nguyên nước; cải tạo, phục hồi và phát triển các nguồn nước.

Đọc thêm...
 
Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026: Bảo đảm an ninh nước cho sinh hoạt và sản xuất
Thứ hai, 26 Tháng 1 2026 09:18

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 243/QĐ-BNNMT công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026, làm cơ sở điều hòa, phân phối và quản lý tài nguyên nước trên toàn lưu vực. Kịch bản nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng

Việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026 nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.

Đồng thời, Kịch bản là căn cứ để các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước; các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp theo quy định tại các khoản 1, 5, 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43, các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.

Kịch bản được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố được tính toán, đánh giá cho mùa cạn năm 2026, từ tháng 01 đến hết tháng 7/2026, áp dụng trên toàn bộ các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Srêpốk.

Nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ

Theo Kịch bản được công bố, trong mùa cạn năm 2026, trên toàn lưu vực sông Srêpốk hiện có 188 công trình cấp nước tập trung, trong đó gồm 51 công trình khai thác nước mặt và 137 công trình khai thác nước dưới đất. Tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh – dịch vụ ước đạt khoảng 10,7 triệu m³ trong toàn kỳ mùa cạn.

Tỷ lệ khai thác từ nước dưới đất chiếm khoảng 76%, trong khi khai thác từ nước mặt chiếm 24%, phản ánh mức độ phụ thuộc tương đối lớn của nhiều khu vực trên lưu vực vào nguồn nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng cao, vùng chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống cấp nước tập trung.

Bên cạnh các công trình tập trung, trên lưu vực còn tồn tại nhiều công trình cấp nước tự chảy, giếng khoan hộ gia đình và các điểm khai thác nhỏ lẻ, phân tán, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ. Hệ thống này góp phần đa dạng hóa nguồn cung, song cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát để hạn chế nguy cơ suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước, nhất là đối với các tầng chứa nước dưới đất.

Nông nghiệp tiếp tục là ngành sử dụng nước lớn nhất

Kịch bản xác định, nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất trên lưu vực sông Srêpốk, với tổng nhu cầu nước trong mùa cạn năm 2026 ước đạt khoảng 1.419 triệu m³.

Trong tổng nhu cầu này, hệ thống các công trình thủy lợi hiện có cung cấp khoảng 485 triệu m³, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới cho lúa, 41% cho cây hàng năm khác và 17% cho cây lâu năm. Phần diện tích còn lại, đặc biệt là các vùng trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước mưa, các công trình khai thác nước dưới đất và các công trình nước mặt nhỏ lẻ.

Thực tế này cho thấy sản xuất nông nghiệp trên lưu vực vẫn chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết, khả năng tích trữ và điều tiết nước của hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi, nhất là trong điều kiện mùa khô kéo dài và lượng mưa phân bố không đều.

Nhu cầu nước cho phát điện và vai trò của các hồ chứa lớn

Trên lưu vực sông Srêpốk hiện có nhiều công trình thủy điện quan trọng, vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.

Theo Kịch bản, trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 7/2026, sản lượng điện dự kiến của các nhà máy thủy điện thuộc quy trình liên hồ đạt khoảng 1,22 triệu kWh, thấp hơn khoảng 31% so với năm 2025 và thấp hơn khoảng 19% so với mức trung bình nhiều năm. Tương ứng, nhu cầu nước phục vụ phát điện ước đạt khoảng 16,1 tỷ m³, giảm 14,4% so với năm 2025 và giảm 3,5% so với trung bình thời kỳ.

Riêng hồ Buôn Tua Srah, trong mùa cạn năm 2026, sản lượng điện dự kiến đạt khoảng 145,3 triệu kWh, với nhu cầu nước khoảng 1,3 tỷ m³, giảm 13,3% so với năm 2025 và giảm 7,9% so với trung bình nhiều năm.

Các số liệu trên cho thấy áp lực phát điện trong mùa cạn năm 2026 có xu hướng giảm so với những năm trước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác điều tiết, phân phối nước phục vụ các mục tiêu cấp nước cho hạ du, sản xuất nông nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường.

Trạng thái nguồn nước: Cơ bản ở “trạng thái bình thường”

Trên cơ sở tổng hợp các thông tin về hiện trạng nguồn nước, dự báo khí tượng – thủy văn, diễn biến dòng chảy đến các hồ chứa lớn, tình hình nguồn nước mặt và nước dưới đất tại các tiểu vùng, Kịch bản nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Srêpốk trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”.

Đối với bốn hồ chứa lớn gồm Buôn Tua Srah, Krông Búk Hạ, Srêpốk 3 và Srêpốk 4, dự báo cho thấy tổng lượng nước đến hồ trong mùa cạn năm 2026 có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước cho phát điện, tưới tiêu nông nghiệp tại địa phương và duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ.

Cụ thể, tại hồ Buôn Tua Srah và Krông Búk Hạ, trong cả hai kịch bản vận hành (sản lượng phát điện thấp hơn năm 2025 hoặc tương đương trung bình nhiều năm), nhu cầu nước cho phát điện và tưới tiêu đều được đánh giá là phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước đến hồ.

Đối với hồ Srêpốk 3 và Srêpốk 4, sản lượng điện và nhu cầu nước cho phát điện dự kiến thấp hơn trung bình nhiều năm, trong khi dòng chảy đến hồ có xu hướng cao hơn khoảng 10–15%, tạo dư địa nhất định cho việc điều tiết nước phục vụ hạ du.

Nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số tiểu vùng

Mặc dù tổng thể nguồn nước được đánh giá ở trạng thái bình thường, Kịch bản cũng chỉ rõ, do đặc điểm địa hình dốc, mạng lưới sông suối nhỏ, khả năng trữ nước hạn chế, cùng với đặc trưng mùa khô kéo dài, lượng mưa thấp và bốc hơi lớn, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số khu vực, đặc biệt là các vùng ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa, các khu vực có công trình thủy lợi quy mô nhỏ, chưa được đầu tư đồng bộ.

Tiểu vùng Ia Đrăng và Ia Lốp: Có khoảng 15 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 216,9 triệu m³. Đến đầu tháng 01/2026, phần lớn các hồ đã tích gần đầy và cơ bản đáp ứng nhu cầu trong phạm vi cấp nước. Tuy nhiên, hồ Ia Ring gặp sự cố thấm thân đập từ cuối năm 2024, chỉ tích được khoảng 57% dung tích, tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước tưới tại một số xã thuộc tỉnh Gia Lai.

Tiểu vùng Thượng và Hạ Ea Hleo: Khoảng 97 hồ chứa, tổng dung tích hơn 223 triệu m³, nguồn nước trong phạm vi cấp nước của các hồ được đánh giá là bảo đảm. Tuy nhiên, các khu vực ngoài hệ thống vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ, đặc biệt trong các tháng cao điểm nắng nóng.

Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Ana: Hệ thống 365 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 140 triệu m³ cơ bản đáp ứng nhu cầu, song các khu vực phụ thuộc nhiều vào nước mưa và công trình nhỏ lẻ vẫn có khả năng xảy ra thiếu nước trong mùa khô.

Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Nô: Khoảng 110 hồ chứa với tổng dung tích hơn 74 triệu m³ cơ bản đủ khả năng cấp nước trong phạm vi, nhưng các xã vùng cao, vùng xa trung tâm vẫn tiềm ẩn rủi ro thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.

Tiểu vùng Thượng và Hạ Srêpốk: Hệ thống gần 200 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 174 triệu m³ nhìn chung bảo đảm nguồn nước, song một số khu vực đô thị và nông thôn vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ do nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi.

Định hướng giải pháp và phân công nhiệm vụ

Về tổng thể, nguồn nước trên các tiểu vùng và các tầng chứa nước cơ bản ở trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai thác bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các tháng cao điểm nắng nóng (từ tháng 3 đến tháng 5), nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể gia tăng nếu việc khai thác, sử dụng không hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.

Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước trong mùa cạn năm 2026, đặc biệt trong các tháng dự báo xảy ra nắng nóng diện rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực sông Srêpốk chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.

Bộ Công Thương được giao chỉ đạo việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch vận hành các hồ chứa thủy điện phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm ưu tiên cấp nước cho hạ du đến cuối mùa cạn, đồng thời cân đối hài hòa giữa mục tiêu phát điện và cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất.

Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục rà soát, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, mở rộng phạm vi cấp nước, cải thiện năng lực tích trữ và điều tiết nước, đồng thời tăng cường giám sát việc khai thác nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng trồng cây công nghiệp.

Kịch bản cũng khuyến nghị phát triển các mô hình tích trữ nước mưa, ao hồ nhỏ, công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực thường xuyên hạn hán nhằm giảm áp lực lên nguồn nước.

Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật KBNN trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai KBNN đã công bố.

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hoà, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.

Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.

Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với KBNN; Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ cho các địa phương trên các LVS, nhất là các vùng, khu vực được cảnh báo có nguy cơ thiếu nước.

Cục Khí tượng thủy văn theo dõi, cập nhật bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; tăng cường dự báo, cảnh báo cho các khu vực, vùng có nguy cơ xảy ra thiếu nước đã được nhận định trong KBNN.

Văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để cung cấp, thông báo kịp thời các thông tin về vận hành, xả nước của hồ Srêpôk 4 cho phía Campuchia theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.

Tăng cường bảo vệ và phục hồi nước dưới đất

Đvới công tác bảo vệ nước dưới đất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, phê duyệt và triển khai kế hoạch bảo vệ theo quy định pháp luật; cập nhật danh mục các vùng hạn chế khai thác; khoanh định, đánh giá các khu vực có tiềm năng bổ cập nhân tạo; nghiên cứu, áp dụng các mô hình bổ sung nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước, nhất là tại các khu vực phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất.

Việc khai thác nước dưới đất cần được giám sát chặt chẽ, hạn chế tình trạng khai thác quá mức, sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ không bảo đảm kỹ thuật, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước.

 

File đính kèm:

Nguồn: DWRM

 
Trang 12345678910

Trang 5 trong tổng số 46 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay87
mod_vvisit_counterTrong tuần6981
mod_vvisit_counterTrong tháng10809
mod_vvisit_counterTất cả8520157

We have: 56 guests online